tam soat ung thu Vòm mũi họng – Hạ họng – Thanh quản
bằng Nội soi NBI
TS.BS. HOÀNG LƯƠNG
GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG SÀI GÒN
Ung thư vòm họng là bệnh ung thư đứng đầu trong các ung thư vùng đầu cổ. Tại bệnh viện K Hà Nội, năm 1998 tỷ lệ mắc bệnh ung thư vòm họng ở nam là 9,2/100.000 người dân và ở nữ là 4,8/100.000 người dân. Tại Singapore, nguy cơ mắc ung thư vòm ở nam giới gấp 3 lần lớn hơn so với nữ.
I. DỊCH TỄ HỌC
Khu vực có nguy cơ mắc cao bao gồm miền Nam Trung quốc, các nước vùng Đông Nam châu Á.
Khu vực có nguy cơ làng nhàng và ngày càng có xu hướng tăng lên bao gồm các nước ở vùng Bắc Phi.
Khu vực có nguy cơ thấp là các nước châu Âu, châu Mỹ.
II. duyên cớ
nguyên cớ gây ra ung thư vòm họng cho tới nay chưa rõ ràng. Có rất nhiều giả định:
Do virus: Qua nhiều nghiên cứu thấy bệnh này có liên can đến virút Epstein – Barr (EBV). Kháng thể chống virút EBV cao ở các bệnh nhân ung thư vòm loại biểu mô không biệt hoá.
Do nhân tố di truyền: Nhiều trường hợp ung thư vòm được phát hiện trong một gia đình. Tỷ lệ tăng cao của kháng nguyên HL – A2 ở vị trí thứ nhất và sự thiếu hụt ở vị trí thứ hai của kháng nguyên BW46 hình như tạo điều kiện thuận tiện cho sự xuất hiện ung thư vòm.
Môi trường: ngoại kiều Trung Quốc thiên di sang Mỹ ít bị ung thư vòm hơn ở trong nước làm cho người ta nghĩ tới vai trò của môi trường tác động vào bệnh này. thương tổn chức năng tế bào lympho T kèm theo nhiễm EBV kinh niên là hai yếu tố nguy cơ cao đã được xác định.
Thức ăn và cách chế biến: Thức ăn chế biến qua các khâu lên men như rượu, bia, cá muối, dưa, nước mắm có chứa nhiều chất Nitrosamin có can dự đến một số loại ung thư của đường tiêu hoá, và ung thư vòm.
Tuổi và giới: Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thấp nhất là 5 và cao nhất là 85 tuổi, tuy nhiên lứa tuổi hay gặp nhất từ 30 – 55 tuối chiếm tỷ lệ 70%.
III. TRIỆU CHỨNG
Nhức đầu âm ỉ, lan tỏa.
Ù tai: Ù tai một bên liên tục, ngày càng tăng.
Nghẹt mũi: Hỉ mũi có máu hoặc chảy máu cam trực tính.
Nổi hạch cổ: Nhóm hay gặp nhất là hạch góc hàm, lúc đầu nhỏ sau to, chắc, không đau. Giai đoạn cuối hạch to gây lở loét ra da, đau.
Liệt dây tâm thần sọ: Lác mắt, nhìn đôi, tê mặt, liệt lưỡi, muộn hơn có thể nuốt sặc.
Các triệu chứng nhức đầu, ù tai, nghẹt mũi rất dễ nhầm lẫn với cảm cúm, các bệnh nội khoa về tâm thần huyết quản, các bệnh tai mũi họng.
IV. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán ung thư vòm dựa vào các xét nghiệm sau:
Nội soi NBI.
Sinh thiết.
Chọc hút hạch làm FNA.
Chụp CT Scanner hay chụp MRI.
Xét nghiệm sinh hoá.
Triệu chứng lâm sàng.
4.1. Nội soi NBI
Nội soi truyền thống: Nội soi truyền thống, sử dụng ánh sáng phức hợp, có dải tần phân bố từ bước sóng 380nm đến 780nm. Nhưng ánh sáng phức hợp không thể phân biệt được sự khác biệt được đặc điểm giữa tổ chức bình thường và tổ chức bệnh lý (ung thư).
Nội soi NBI (Narrow Banding Imaging – NBI endoscopy): Nội soi với dải tần ánh sáng hẹp dùng ánh sáng đơn sắc với hai bước sóng 415nm (415 ± 30nm) và 540nm (540 ± 30nm) có thể phát hiện sự tăng sinh thất thường của hệ vi huyết mạch nông và rất nông ngay trong lớp niêm mạc. Đây chính là cơ chế lý giải vì sao nội soi NBI cho kết quả hình ảnh bệnh lý niêm mạc rõ nét hơn so với nội soi thông thường. Nội soi NBI có thể phát hiện tình trạng tăng sinh mạch máu trong các trường hợp ung thư vòm mũi họng, ung thư hạ họng thanh quản, ung thư thực quản, ung thư dạ dày và ung thư trực tràng từ rất sớm, khi mà khối u còn khu trú, chưa có hạch di căn. Nhờ vậy kết quả điều trị sẽ tốt hơn nhiều, tỷ lệ khỏi bệnh cao.
Bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn là nơi đã khai triển nội soi NBI tầm soát ung thư vòm, ung thư hốc mũi, ung thư hạ họng thanh quản từ năm 2010, phát hiện nhiều trường hợp ung thư vòm, nhiều bệnh nhân đã được xạ trị sớm và khỏi bệnh.
0 nhận xét: